Xe chở công nhân bị tai nạn, ai bồi thường?
Trách nhiệm bồi thường khi lật xe chở công nhân
(Xe chở công nhân bị tai nạn thì ai bồi thường)
Khoảng 5 giờ 40 phút sáng 3/8, tại địa phận thôn Cầu Đất, xã Phượng Sơn (Lục Ngạn) xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ.
Xe ô tô BKS 99F-000.24 do anh Vi Văn Ái (SN 1977), trú tại xã Tân Hoa (Lục Ngạn) điều khiển chở hơn 21 công nhân đi hướng Lục Ngạn – Lục Nam thì mất lái, bị lật xuống vườn cam nhà dân ở thôn Cầu Đất.
Hậu quả vụ tai nạn làm chị L.T.L (SN 1996), trú tại xã Hồng Giang (Lục Ngạn) bị đứt lìa cánh tay phải và 6 công nhân khác bị thương; xe ô tô hư hỏng nặng.
Vậy, trách nhiệm bồi thường cho những công nhân này thuộc về ai? Cùng Luật Minh Huy tìm hiểu vấn đề này trong bài viết dưới đây.
Theo quy định tại Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015:
Điều 601 BLDS năm 2015 quy định:
“1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới,…
2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
….”.
Theo quy định tại điểm 13 Điều 3 Luật giao thông đường bộ 2008, thì “Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gồm xe ô tô, …”
Như vậy, ô tô chính là nguồn nguy hiểm cao độ.

CHỦ THỂ CÓ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG?
Trường hợp 1.
Xe gây tai nạn là xe của công ty, lái xe là lao động (nhân viên) của công ty thực hiện nhiệm vụ được công ty giao, công nhân được chở trên xe cũng là lao động của công ty.
Điều 597 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao.
Như vậy, công ty sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu nhân viên lái xe gây tai nạn trong lúc thực hiện công việc của công ty.
Trường hợp 2.
Công ty của các công nhân đã thuê xe và lái xe của một đơn vị vận tải khác để chở công nhân
Tương tự như trường hợp trên, nhân viên lái xe của công ty vận tải đã gây tai nạn trong lúc thực hiện công việc của công ty. Do đó công ty vận tải sẽ có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này.
Tuy nhiên, trong 2 trường hợp trên để loại trừ trách nhiệm của nhân viên lái xe đối với những công nhân bị thương thì lái xe phải thực hiện việc đưa đón công nhân đúng theo sự phân công của công ty và các điều kiện đã thỏa thuận từ trước.
Đối với trường hợp, nhân viên lái xe tự ý lấy xe công ty để thực hiện việc cá nhân hoặc một việc nào đó nhưng không nằm trong thỏa thuận giữa hai bên, nhân viên lái xe này phải tự chịu trách nhiệm với những thiệt hại do mình gây ra, công ty không phải bồi thường thiệt hại cho bên bị thiệt hại.
Ngoài ra, cũng căn cứ theo Điều 597 Bộ luật Dân sự 2015, công ty đứng ra trả tiền bồi thường cho bên bị thiệt hại đồng thời có quyền yêu cầu nhân viên gây thiệt hại hoàn trả lại công ty một số tiền, số tiền này do hai bên quyết định theo các thỏa thuận đã có trước hoặc những thỏa thuận sau khi xảy ra sự việc.
Trường hợp 3.
Xe chở công nhân là xe của chính người lái xe. Giữa công ty và cá nhân thỏa thuận để cá nhân này chở khách cho công ty.
Việc gây ra tai nạn chính là do hành vi vi phạm luật về an toàn GTĐB của lái xe gây ra (Lái xe khai nhận do mất lái, không làm chủ tốc độ dẫn đến lật xe). Đồng thời, chủ sở hữu xe chính là lái xe nên lái xe chính là người có trách nhiệm bồi thường cho những công nhân bị thương.
Trường hợp 4.
Lái xe đã thuê lại chiếc xe ô tô từ một đơn vị vận tải thông qua hợp đồng mượn/thuê tài sản. Lái xe dùng xe ô tô đó để ký hợp đồng vận chuyển thuê cho nhiều đơn vị khác.
Lúc này, tuy chủ sở hữu xe của đơn vị vận tải nhưng người phải bồi thường cho công nhân là người lái xe. Vì chủ sở hữu chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng phương tiện giao thông đường bộ thông qua các hợp đồng như cho thuê, cho mượng, cho thuê khoán … thì người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ là phương tiện GTĐB phải bồi thường trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
CÁC KHOẢN BỒI THƯỜNG?
Trong trường hợp trên, các công nhân bị thiệt hại về sức khỏe. Do đó, căn cứ BLDS 2015 có quy định các khoản bồi thường như sau:
Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Lương cơ sở năm 2022 là 1,49 triệu đồng/tháng.
Liên hệ: 0929 965 222
668 Lê Lợi – Hoàng Văn Thụ – TPBG
FB: Luật sư Bắc Giang – Luật Minh Huy
Tiếng Việt
English











Đang truy cập : 0
Trong Ngày :
Trong Tuần : 3
Lượt Truy Cập : 30933
IP : 216.73.216.107
Trả lời