Miễn trách nhiệm hình sự
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định Miễn trách nhiệm hình sự được thể hiện dưới hai hình thức hoặc là “được miễn trách nhiệm hình sự” hoặc là “có thể được miễn trách nhiệm hình sự” với những nội dung chủ yếu sau:
I.Các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 16, Điều 27, khoản 1 Điều 29, khoản 4 Điều 110 BLHS
1.Miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Điều 16 BLHS.
Trong trường hợp này, người phạm tội hoàn toàn có khả năng và điều kiện để thực hiện hành vi phạm tội đến cùng mặc dù không có gì ngăn cản nhưng người phạm tội đã lựa chọn cách xử sự là không tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội của mình một cách tự nguyện và dứt khoát khi tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành. Thể hiện thái độ ăn năn, hối cải, sự thức tỉnh lương tâm của người phạm tội. Với ý nghĩa đó, Nhà nước quy định trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì người phạm tội được miễn TNHS về tội phạm.
2.Miễn trách nhiệm hình sự khi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Điều 27 BLHS
3.Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội do có sự thay đổi chính sách, pháp luật hoặc khi có quyết định đại xá khoản 1 Điều 29 BLHS.
-Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
-Khi có quyết định đại xá.
Đại xá là sự tha miễn hoàn toàn đối với một số loại tội phạm nhất định. Đại xá thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội; người được đại xá được trả tự do ngay, được phục hồi toàn bộ quyền công dân và coi như không phạm tội.
4. Miễn TNHS cho người phạm tội gián điệp theo quy định tại khoản 4 điều 110 BLHS. Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác người phạm tội đã không thực hiện nhiệm vụ như đã hứa hẹn, thỏa thuận, dự định, đồng thời, người phạm tội đã tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được miễn TNHS

II.Về các trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, 3 Điều 29, khoản 2 Điều 91, khoản 7 Điều 364, khoản 6 Điều 365, khoản 2 Điều 390 BLHS
1.Miễn TNHS trong trường hợp khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa
2. Miễn TNHS trong trường hợp khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa. Các bệnh như: Ung thư giai đoạn cuối, liệt, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng, suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên, nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn AIDS đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao hoặc mắc một trong các bệnh khác (Thông tư liên tịch số 03/2013 ngày 15/3/2013).
3.Miễn TNHS trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
4.Miễn TNHS trong trường hợp người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự
5.Miễn TNHS và áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (khiển trách; hòa giải tại cộng đồng; giáo dục tại xã, phường, thị trấn)
6.Miễn TNHS đối với người đưa hối lộ khoản 7 Điều 364 “Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.”
7.Miễn TNHS đối với người môi giới hối lộ khoản 6 điều 365 Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự
8.Miễn TNHS đối với người không tố giác tội phạm khoản 2 Điều 390 “Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.”
Liên hệ: 0929 965 222
668 Lê Lợi – Hoàng Văn Thụ – TPBG
FB: Luật sư Bắc Giang – Luật Minh Huy
Tiếng Việt
English











Đang truy cập : 0
Trong Ngày :
Trong Tuần : 3
Lượt Truy Cập : 30933
IP : 216.73.216.107
Trả lời