TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU (2)
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT (2)
2.Các tội phạm xâm phạm sở hữu có hành vi chiếm đoạt và chiếm đoạt được tài sản trong nội dung mặt khách quan của CTTP (Điều 172, 173, 174, 175)
2.1 Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Hành vi lợi dụng chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản, công khai chiếm đoạt tài sản của họ. Người phạm tội không cần và không có ý định sử dụng thủ đoạn nào khác để đối phó với chủ tài sản.
Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản khi thỏa mãn một trong các dấu hiệu sau: tài sản chiếm đoạt trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2.2 Tội trộm cắp tài sản
Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người quản lý. Hành vi được coi là lén lút nếu được thực hiện bằng hình thức mà hình thức đó có khả năng không cho phép chủ tài sản biết có hành vi chiếm đoạt khi hành vi này xảy ra. Ý thức lén lút, che giấu này có thể là che giấu toàn bộ hành vi phạm tội hoặc chỉ che giấu tính chất phi pháp của hành vi.
Hành vi trộm cắp tài sản chỉ cấu thành tội trộm cắp tài sản khi thỏa mãn một trong các dấu hiệu sau: Tài sản chiếm đoạt trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; Tài sản là di vật, cổ vật.

2.3 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản. Hành vị này được tạo thành bởi hai hành vi khác nhau là hành vi gian đối và hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Hai hành vi này có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó hành vi gian dối là thủ đoạn, là tiền đề để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Hành vi gian dối được hiểu là cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin đó là sự thật. Về mặt chủ quan, người phạm tội biết đó là những thông tin giả và mong muốn người khác tin đó là sự thật, để được họ giao tài sản.
Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi: Tài sản chiếm đoạt trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2.4 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm 02 nhóm hành vi sau: Một là, vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đã đến thời hạn trả lại tài sản và mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả. Hai là, vay, mượn, thuê tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi Tài sản chiếm đoạt trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Liên hệ: 0929 965 222
668 Lê Lợi – Hoàng Văn Thụ – TPBG
FB: Luật sư Bắc Giang – Luật Minh Huy
Xem thêm: CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU (1)
English
Tiếng Việt











Đang truy cập : 0
Trong Ngày :
Trong Tuần : 3
Lượt Truy Cập : 30933
IP : 216.73.216.107
Leave a Reply