Không trả lại tiền được chuyển khoản nhầm, phạm tội gì?
Việc chuyển khoản nhầm số tài khoản xảy ra rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày, tuy nhiên không phải ai cũng đòi lại được số tiền đã chuyển khoản nhầm. Vậy khi bên được chuyển khoản nhầm cố tình không trả lại tiền được chuyển khoản nhầm sẽ phạm tội gì? Cùng luật Minh Huy tìm hiểu ở bài viết dưới đây nhé:
I.QUY ĐỊNH VỀ TỘI SỬ DỤNG TRÁI PHÉP TÀI SẢN
Điều 177. Tội sử dụng trái phép tài sản
1. Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc dưới 500.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 219 và Điều 220 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
1.Khách thể: quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản.
Tiền là đối tượng của tội này nếu người thực hiện hành vi phạm tội có ý định sử dụng trái phép số tiền của cơ quan, tổ chức, cá nhân, có chứng cữ rõ ràng thể hiện người phạm tội không có ý định chiếm đoạt, không có hành vi gian dối nhằm che đậy, hợp pháp hóa việc mượn tiền.
2.Mặt khách quan:
Tội sử dụng trái phép tài sản có hành vi khách quan là hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác vì vụ lợi. Hành vi sử dụng tài sản trái phép tài sản ở đây là hành vi chỉ nhằm mục đích khai thác giá trị sử dụng của tài sản và lợi ích tài sản mang lại một cách trái phép. Việc chiếm hữu tài sản có thể được thực hiện một cách công khai hợp pháp hoặc lén lút.
Hành vi chỉ nhằm khai thác giá trị sử dụng của tài sản trong một thời gian nhất định và làm cho chủ tài sản mất khả năng chiếm hữu, sử dụng trong khoảng thời gian đó. Ví dụ tự ý lấy xe ô tô của người khác đi chở hàng thuê, sau khi sử dụng thì trả lại chỗ cũ. Nếu vứt xe ở chỗ nào đó thì là hành vi trộm cắp tài sản.
=> người phạm tội chỉ có ý định khai thác lợi ích của tài sản chứ không có ý định chiếm đoạt tài sản.
Về định lượng giá trị tài sản bị sử dụng trái phép:
– phạm tội sử dụng trái phép tài sản bị sử dụng trái phép có giá trị từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, đã bị xử lý kỉ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này.
– người thực hiện hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, đã bị kết án về tội này mà chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
– sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị dưới 500.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật.
3.Chủ thể của tội phạm
tại khoản 1 điều 177 quy định về tội ít nghiêm trọng với khung hình phạt từ 3 tháng đến 2 năm. Quy định tại khoản 2 và khaorn 3 Điều 177 là tội phạm nghiêm trọng. Theo quy định tại Điều 12 BLHS người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
Do vậy chủ thể của tội sử dụng trái phép tài sản quy định tại khoản 1,2,3 điều 177 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực TNHS.
4.Mặt chủ quan của tội phạm
– Động cơ của tội này là vi vụ lợi.
– Lỗi cố ý
– mục đích: người thực hiện hành vi phạm tội mong muốn khai thác giá trị sử dụng của tài sản và không có mục đích chiếm đoạt tài sản.

II.PHÂN BIỆT TỘI SỬ DỤNG TRÁI PHÉP TÀI SẢN VỚI TỘI CHIẾM GIỮ TRÁI PHÉP TÀI SẢN
Chiếm giữ trái phép tài sản được hiểu là hành vi cố tình không trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm quản lý tài sản bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được sau khi đã có yêu cầu nhận lại tài sản đó.
Điều 176. Tội chiếm giữ trái phép tài sản
1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Khách thể
Khách thể của tội chiếm giữ trái phép tài sản giống với tội sử dụng trái phép tài sản đó là quyền sở hữu tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, đối tượng tác động của tội chiếm giữ trái phép tài sản phải là những tài sản mà đã thoát ly khỏi quyển quản lý của chủ sở hữu, tức là tài sản đó đã bị chủ sở hữu đánh rơi, làm mất hoặc giao nhầm… Còn đối tượng tác động của tội sử dụng trái phép tài sản phải là những tài sản vẫn đang nằm trong sự quản lý hay sở hữu của người quản lý hoặc chủ sở hữu hợp pháp và những loại tài sản không bị mất đi, không bị tiêu hao trong quá trình sử dụng.
Về mặt khách quan
Mặt khách quan của tội chiếm giữ trái phép tài sản thể hiện ở hành vi biến tài sản đang tạm thời không có người hoặc chưa có người quản lý thành tài sản của mình một cách trái phép dưới hình thức không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp tài sản bị giao nhầm, không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản mà mình tìm được hoặc bắt được.
Theo quy định của BLHS thì các hành vi nêu trên chỉ bị coi là phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản khi
+ Chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật nhưng người chiếm giữ tài sản vẫn không trả lại hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản mà mình tìm được hoặc bắt được,
+Tài sản mà người phạm tội được nhận nhầm hoặc tìm được, bắt được có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là đi vật, cổ vật.
Dấu hiệu trong hành vi khách quan của tội chiếm giữ trái phép tài sản khác với tội sử dụng trái phép tài sản ở chỗ người thực hiện hành vi phạm tội đã bị chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp biết được hành vi chiếm giữ trái phép tài sản và có yêu cầu trả lại tài sản
Trong khi đối với tội sử dụng trái phép tài sản, người thực hiện hành vi phạm tội lại được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tin tưởng giao tài sản cho quản lý, sau khi được giao tài sản cho quản lý, người phạm tội mới nảy sinh ý định sử dụng trái phép tài sản để thu lợi hoặc có trường hợp cố ý lấy tài sản của người khác để sử dụng trái phép và với ý thức sẽ giao trả lại tài sản sau khi sử dụng.
Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của tội chiếm giữ trái phép tài sản người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, tức là họ biết tài sản mà mình có được không phải thuộc sở hữu hợp pháp của mình và cũng đã nhận được yêu cầu trả lại tài sản của chủ sở hữu, người quản lý tài sản hợp pháp nhưng cố tình không trả lại tài sản.
Mục đích của người phạm tội chính là mong muốn giữ bằng được tài sản do bị giao nhầm, nhặt được, tìm được hoặc bắt được. Ngoài mục đích này, người phạm tội cũng không còn mục đích nào khác và đây cũng là điểm khác biệt so với mục đích vì vụ lợi của người phạm tội sử dụng trái phép tài sản.
Như vậy, hành vi không trả lại tiền được chuyển khoản nhầm thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội Chiếm giữ trái phép tài sản.
Liên hệ: 0929 965 222
668 Lê Lợi – Hoàng Văn Thụ – TPBG
FB: Luật sư Bắc Giang – Luật Minh Huy
Xem thêm: Quy định về xóa án tích
English
Tiếng Việt











Đang truy cập : 0
Trong Ngày :
Trong Tuần : 3
Lượt Truy Cập : 30933
IP : 216.73.216.107
Leave a Reply