Điều 230 BLTTHS về Đình chỉ điều tra
Cùng luật Minh Huy tìm hiểu quy định của pháp luật về Đình chỉ điều tra vụ án hình sự trong bài viết dưới đây:
Có thể hiểu “đình chỉ vụ án” là chấm dứt mọi hoạt động tố tụng kể từ thời điểm đó, có nghĩa là trong một vụ án hình sự khi đã có quyết định đình chỉ thì không được tiến hành điều tra, truy tố hay xét xử đối với vụ án hay đối với bị can trong vụ án đó nữa. Đối với mỗi giai đoạn của vụ án sẽ có những căn cứ khác nhau để các cơ quan và người thẩm có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định đình chỉ vụ án.
Khi vụ án đang ở giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự;
b) Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.
(Điều 230 BLTTHS 2015)

Như vậy, theo quy định của BLTTHS, CQĐT ra Quyết định đình tra khi có một trong các căn cứ sau:
Thứ nhất, người có đơn yêu cầu khởi tố rút đơn yêu cầu (khoản 2 Điều 155 BLTTHS 2015)
Khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015 quy định cụ thể các tội danh tại BLHS 2015 khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại. CQĐT chỉ được áp dụng căn cứ đình chỉ điều tra đối với trường hợp người bị hại rút đơn thuộc một trong tội danh đã được quy định. Trong trường hợp này, CQĐT phải đình chỉ điều tra, chấm dứt mọi hoạt động điều tra đối với vụ án.
Thứ hai, có một trong những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 157 BLHS 2015
Điều 157. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự
Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:
1. Không có sự việc phạm tội;
2. Hành vi không cấu thành tội phạm;
3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
6. Tội phạm đã được đại xá;
7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
8. Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.
Thứ ba, đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm
Hết thời hạn điều tra được hiểu là hết thời hạn điều tra tối đa (bao gồm cả thời hạn gia hạn điều tra) do BLTTHS quy định cho CQĐT được phép điều tra vụ án. Khi hết thời hạn điều tra mà CQĐT không chứng minh được bị can đã thực hiện hành vi phạm tội thì Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT phải ra quyết định đình chỉ điều tra, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đã áp dụng đối với bị can.
Thứ tư, đình chỉ theo quy định tại Điều 16 BLHS do tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội.
Thứ năm, đình chỉ theo quy định tại Điều 29 BLHS
1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi có quyết định đại xá.
2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
c) Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác,9 người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
3. Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Thứ sáu, đình chỉ điều tra khi có căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 91 BLHS 2015
“2. Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này;
b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141, 142, 144, 150, 151, 168, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này;
c) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.”
Với các trường hợp như phân tích trên, vụ án hình sự sẽ được đình chỉ điều tra.
Liên hệ: 0929 965 222
668 Lê Lợi – Hoàng Văn Thụ – TPBG
FB: Luật sư Bắc Giang – Luật Minh Huy
Xem thêm: Miễn trách nhiệm hình sự
English
Tiếng Việt











Đang truy cập : 0
Trong Ngày :
Trong Tuần : 3
Lượt Truy Cập : 30933
IP : 216.73.216.107
Leave a Reply