PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM (P2)
Trình tự, thủ tục của một phiên tòa hình sự sơ thẩm được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015, cụ thể:
III.TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
3.Tiến hành tranh luận
Sau khi kết thúc việc xét hỏi, KSV trình bày luận tội Luân tội của KSV thể hiện quan điểm buộc tội của VKS đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Điều 321 BLTTHS năm 2015 đã quy định luận tội của KSV phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Khi luận tội, KSV phải dựa vào những chứng cứ, tài liệu đã được kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả của việc tiến hành xét hỏi, bởi trên thực tế có nhiều trường hợp ra đến phiên tòa, người tham gia tố tụng trình bày thêm những tình tiết mà trước đó chưa khai bảo, cũng có thể đưa thêm những đồ vật, tài liệu mới mà trước đó chưa được kiểm chứng.
Đồng thời, nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án, tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của BLHS, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Bên cạnh đó, luận tội còn phải phân tích, đánh giá cả chứng cứ gỡ tội hoặc giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo.
Sau khi KSV luận tội, chủ tọa phiên tòa yêu cầu bị cáo tự bào chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thì người này trình bày lời bào chữa cho bị cáo, bị cáo được bổ sung lời bào chữa sau khi người bào chữa kết thúc lời bào chữa. Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác được trình bày ý kiến, đưa ra chúng cử, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với KSV về tất cả vấn đề KSV đã trình bày. Trên cơ sở đưa ra quan điểm, lập luận, bị cáo và người bào chữa trình bày các tình tiết nhằm gỡ tội, giảm nhẹ TNHS cho bị cáo.
Khi tất cả các tình tiết về vụ án đều được bên buộc tội và gỡ tội tranh luận, đối đáp sẽ đảm bảo thông tin cung cấp mang tính hai chiều, không phiến điện, đảm bảo sự dân chủ, bình đăng trong quá trình xét xử vụ án.Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho KSV, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại.
Nếu qua tranh luận mà thấy còn có tình tiết vụ án chưa được hỏi, chưa được làm sáng tỏ thi HĐXX phải quyết định trở lại việc xét hỏi Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận.

4. Kiểm sát viên rút quyết định truy tố
Theo Điều 319 BLTTHS năm 2015, KSV có quyền “rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố”. Tại phiên tòa, sau khi kết thúc xét hỏi, nhiều tình tiết của vụ án đã được làm sáng tỏ, nếu nhận thấy có căn cứ thì KSV có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố. Theo Điều 325 BLTTHS năm 2015, nếu KSV rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn thì HĐXX vẫn tiếp tục xét xử vụ án, nếu KSV rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, HĐXX yêu cầu những người tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố đó rồi xem xét để đưa ra quyết định. Khi nghị án, nếu việc rút toàn bộ quyết định truy tố của KSV là đúng, đồng nghĩa với việc có căn cứ xác định bị cáo không có tội thi HĐXX ra bản án tuyên bị cáo không có tội, nếu thấy việc rút quyết định truy tố của KSV không có căn cứ thì ra quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị Viện trưởng VKS cung cấp hoặc Viện trưởng VKS cấp trên trực tiếp (khoản 4 Điều 326 BLTTHS năm 2015) Trong trường hợp KSV rút toàn bộ quyết định truy tố thì “người tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố đó”, bị cáo và người bào chữa sẽ được phát biểu trên cơ sở nhất trí hay không nhất trí với quan điểm của KSV về vấn đề này.
5. Bị cáo nói lời sau cùng
Tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi những người tham gia tranh luận không trình bày gì thêm, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc tranh luận và cho bị cáo nói lời sau cùng.
Khi nói lời sau cùng, bị cáo có thể thể hiện sự ăn năn hối lỗi, nhận ra sai lầm trong hành vi của mình hoặc đề nghị HĐXX chú ý đến những tình tiết thể hiện bị cáo có tội hay không, những tình tiết giảm nhẹ TNHS. Lời nói sau cùng cũng thể hiện những tâm tư, nguyện vọng của bị cáo nên HĐXX không được hạn chế thời gian của bị cáo, đồng thời cũng nhắc nhở bị cáo không phát biểu những nội dung không liên quan đến vụ án.
IV. NGHỊ ÁN VÀ TUYÊN ÁN
Sau khi tất cả tình tiết có liên quan đến vụ án đã được làm sáng tỏ qua việc xét hỏi và tranh luận, HĐXX vào phòng nghi án thảo luận và ra bản án hoặc quyết định Bản án phải thể hiện được nhận định của HĐXX, phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo có tội hay không và nếu bị cáo có tội thì là tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của BLHS và của văn bản quy phạm pháp luật khác được áp dụng, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải xử lý như thế nào. Nếu bị cáo không có tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và việc giải quyết khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật.
Bản án phải phân tích lý do mà HĐXX không chấp nhận những chứng cử buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của KSV, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự và người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đưa ra, phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, KSV, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử (khoản 2 Điều 260 BLTTHS).
Liên hệ: 0929 965 222
668 Lê Lợi – Hoàng Văn Thụ – TPBG
FB: Luật sư Bắc Giang – Luật Minh Huy
Xem thêm: PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM (P1)
Tiếng Việt
English











Đang truy cập : 0
Trong Ngày :
Trong Tuần : 3
Lượt Truy Cập : 30933
IP : 216.73.216.107
Trả lời