PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM (P2)
Các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm được quy định tại Mục 2 chương XIV, từ Điều 239 đến Điều 269 BLTTDS năm 2015
II.THỦ TỤC TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM
3.Tạm ngừng phiên tòa
Tạm ngừng phiên tòa là phiên tòa không tiếp tục các hoạt động trong thời gian ngắn khi có các căn cứ do pháp luật tố tụng dân sự quy định.
Hội đồng xét xử có quyền quyết định tạm ngừng phiên tòa khi có một trong các căn cứ sau đây:
– Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay thế được người tiến hành tố tụng;
– Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa, trừ trường hợp người tham gia tố tụng có yêu cầu xét xử vắng mặt;
– Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà nếu không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa;
– Chờ kết quả giám định bổ sung, giám định lại;
– Các đương sự thống nhất đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để họ tự hòa giải;
Cần phải báo cáo Chánh án Tòa án để đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 221 của Bộ luật này.
Hình thức, thủ tục và thời hạn tạm ngừng phiên tòa: Việc tạm ngừng phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa. Thời hạn tạm ngừng phiên tòa là không quá 01 tháng, kể từ ngày Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa. Hết thời hạn này, nếu lý do để ngừng phiên tòa không còn thì Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành phiên tòa; nếu lý do để ngừng phiên tòa chưa được khắc phục thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Hội đồng xét xử phải thông báo bằng văn bản cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian tiếp tục phiên tòa.

4. Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
Sau khi kết thúc việc hỏi, Hội đồng xét xử chuyển sang phần tranh luận tại phiên tòa. Trình tự phát biểu khi tranh luận được thực hiện như sau:
– Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày. Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến. Trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày ý kiến. Người có quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ có quyền bổ sung ý kiến;
– Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tranh luận, đối đáp. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến;
– Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến;
– Các đương sự đối đáp theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa;
– Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu các đương sự tranh luận bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Trong trường hợp, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự hoặc những ng tham gia tố tụng khác thì chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của họ để trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên tòa tranh luận và đối đáp.
Khi tranh luận các bên đương sự thể hiện quan điểm của mình về nội dung sự việc thông qua việc phân tích, đánh giá chứng cứ, căn cứ pháp lý, từ đó đề xuất quan điểm của mình về hướng giải quyết vụ án.
Thông qua tranh luận, các bên đương sự đưa ra những căn cứ pháp lý, chứng cứ, lý lẽ, lập luận để chứng minh cho HĐXX, đương sự phía bên kia và những người tham gia tố tụng thấy yêu cầu và sự phản đối yêu cầu của mình là đúng đắn và nghĩa vụ của đương sự đối lập với mình, yêu cầu và phản đối yêu cầu của đương sự phía bên kia là không có căn cứ, không hợp pháp.
Khi đối đáp, các bên chỉ tập trung và những vấn đề còn mâu thuẫn.
Chủ tọa không hạn chế thời gian tranh luận.
Sau khi các bên đương sự đã tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, KSV phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
Nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa đưuọc xem xét , việc xem xét chưa được đầy đủ hoặc cần xem xét them chứng cứ thì HĐXX quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận.
III.THỦ TỤC NGHỊ ÁN VÀ TUYÊN ÁN
HĐXX bàn bạc, thảo luận về các vấn đề sau:
-Những quan hệ pháp luật cần phải giải quyết trong vụ án
-Những tài liệu, chứng cứ của vụ án
-Quyết định về quyền và nghĩa vụ cụ thể của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Khi nghị án, “Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa biểu quyết sau”.
Khi nghị án phải có biên bản ghi lại các ý kiến đã thảo luận và quyết định của HĐXX, phải được các thành viên HĐXX ký tên tại phòng nghị án trước khi tuyên án.
Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp thì HĐXX có thể quyết định thời gian nghị án nhưng không quá 05 ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa.
Liên hệ: 0929 965 222
668 Lê Lợi – Hoàng Văn Thụ – TPBG
FB: Luật sư Bắc Giang – Luật Minh Huy
Xem thêm: PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM (P1)
Tiếng Việt
English











Đang truy cập : 0
Trong Ngày :
Trong Tuần : 3
Lượt Truy Cập : 30933
IP : 216.73.216.107
Trả lời